Công ty giải thể, báo trước cho nhân viên bao lâu?

Hỏi: Tôi ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) 3 năm với công ty A (là văn phòng đại diện của một công ty Singapore), đã làm được 2 năm. Hiện công ty này chuẩn bị giải thể. Xin hỏi công ty phải thông báo trước cho nhân viên bao lâu trước khi chấm dứt HĐLĐ? Tiền trợ cấp thất nghiệp, tiền thâm niên và các chế độ khác (nếu có) tính ra sao?

Trả lời: Điều 38 Bộ luật lao động (sửa đổi, bổ sung năm 2006) quy định:

1- Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng;

d) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.

3- Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ (theo điểm a,c,d,đ khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động), trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) ít nhất 45 ngày đối với HĐLĐ không xác định thời hạn;
b) ít nhất 30 ngày đối với HĐLĐ xác định thời hạn từ một năm đến ba năm;
c) ít nhất ba ngày đối với HĐLĐ theo mùa vụ, theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm.

Chiếu theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động (sửa đổi bổ sung năm 2006) thì công ty bạn có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi công ty giải thể và phải báo trước cho người lao động về thời gian đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 38 Bộ luật lao động.

Về trợ cấp thất nghiệp:

Điều 81 Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) quy định: người lao động được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;
–  Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;
– Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Khoản 1 Điều 82 Luật BHXH quy định mức trợ cấp thất nghiệp như sau: “Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp”.

Về thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, điểm a khoản 3 Điều 82 Luật BHXH quy định: “Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp”.

Dựa trên những cơ sở pháp lý nêu trên, tính đến ngày  bạn nghỉ việc, nếu bạn đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi nghỉ việc thì bạn được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Về chế độ thôi việc (tiền thâm niên):

Theo quy định tại khoản 6 Điều 139 Luật BHXH: “Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật BHXH không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức”.

Khoản 1 Điều 42 Bộ Luật Lao động (sửa đồi bổ sung năm 2006) quy định: khi chấm dứt HĐLĐ đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có.

Khoản 5 Điều 14 Nghị định 44 Hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động về HĐLĐ quy định: trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động như sau: thời gian làm việc khi có tháng lẻ đối với người lao động làm việc trên 12 tháng được làm tròn như sau:

– Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 06 tháng làm việc;
– Từ đủ 06 tháng đến 12 tháng được tính bằng 01 năm làm việc.

Dực trên cơ sở pháp lý nêu trên, khoảng thời gian bạn đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ không được tính vào thời gian được hưởng trợ cấp thôi việc. Do vậy:

Thời gian hưởng trợ cấp thôi việc = tổng thời gian bạn làm việc tại công ty – thời gian bạn đã đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Mức trợ cấp thất nghiệp được tính như sau: cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương cộng với phụ cấp lương nếu có.